PG & Đời sống
ĐẠO ĐỨC VÀ NẾP SỐNG HƯỚNG THƯỢNG CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
15/03/2011 22:59 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Đạo đức Phật giáo làm thế nào để thích ứng với xã hội hiện đại, đã cống hiến được những gì mới mẻ cho xã hội hiện đại?. Chúng ta  có thể bắt đầu từ sự giải thích năm giới, thập thiệnó hướng đến, quảng đại quần chúng trong xã hội tuyên dương và phổ cập những ý nghĩa và tác dụng sâu rộng của nó. 

I. NHẬN ĐỊNH CHUNG:

Cuộc sống của con người  trong tất cả mọi thời đại với nền văn hóa quốc gia, chủng tộc  khác nhau đều lấy yếu tố nền tảng đạo đức xây dựng nhân cách cho chuẩn mực cho văn hóa của từng cá nhân gia đình xã hội. Chính đạo đức giử vai trò cốt lõi làm thăng hoa cuộc sống của cộng đồng xã hội. Dựa vào truyền thống đạo đức học Phật giáo, chúng tôi sẽ trình bày  những trạng thái tâm thức cơ bản của chúng ta và những khuynh hướng thúc đẩy trong việc đánh giá đạo đức của bất cứ hành vi nào trong đời sống con người.

Trong giai đoạn  ngày nay,với  sự phát triển cao độ nền  khoa học kỹ thuật, nhân loại đang đối diện với vô số vấn đề, và con người càng ngày càng đạt được ý thức chung về việc nâng cao tinh thần đạo đức và sự tu dưỡng văn hóa cho chính bản thân mình. Ở đây, chúng tôi  muốn trình bày, vai trò của Phật giáo trong việc nâng cao tác dụng đạo đức và tu dưỡng đạo đức của con người. Phật giáo sở dĩ có chiều dày lịch sử là vì Phật giáo luôn vì tín đồ thuyết giáo đạo đức, làm cho con người thuần thục đạo đức, những tinh thần đạo đức mà hoàn toàn có thể thích ứng với đặc điểm của thời đại, có thể đưa ra những giải thích hợp lý và mới mẻ, có tính khoa học, để nhân loại trong thời đại ngày nay có thể tiếp nhận, đồng thời đẩy mạnh sự phát triển một nền văn minh lành mạnh cho nhân loại.

Đạo đức Phật giáo làm thế nào để thích ứng với xã hội hiện đại, đã cống hiến được những gì mới mẻ cho xã hội hiện đại?. Chúng ta  có thể bắt đầu từ sự giải thích năm giới, thập thiệnó hướng đến, quảng đại quần chúng trong xã hội tuyên dương và phổ cập những ý nghĩa và tác dụng sâu rộng của nó. 

Nếu việc được người Phậ tử tưới tẩm và  nuôi dưỡng nhằm thăng hoa nhân cách cho chính bản thân và xây dựng được nền móng cho đạo đức Phật giáo trong cộng đồng dân cư thì đó là một sự minh chứng cho tin thần Phật giáo có thể đem lại lơi lạc cho mọi người. Nền đạo đức đó sẽ góp phần dựng lập khi mà xã hội Việt Nam đang trên bờ của sự suy thoái đạo đức.

II. NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG ĐỜI SỐ:

1. Tinh thần đạo đức Phật giáo được thể hiện trong ngũ giới:

a. Tôn trọng sự sống ( Không sát sanh):

Chúng ta ý thức rằng sự sống khắp nơi đang bị hủy diệt vì nhận  thấy được những khổ đau do sự sát hại gây ra, và chúng ta nguyện phát triển lòng từ bi, lấy đó làm nguồn năng lượng để bảo vệ con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá. là một phép tu luyện tâm Bi có khả năng làm vơi nhẹ và chuyển hoá khổ đau. Khi thấy được nỗi khổ thì tâm Bi phát sinh trong ta.

Tiếp xúc với khổ đau của cuộc đời là điều rất cần thiết. Ta cần nuôi dưỡng ý thức ấy thông qua nhiều phương tiện – hình ảnh, âm thanh, tiếp xúc trực tiếp, thăm viếng v.v... để giữ tâm Bi sống trong ta. Theo Phật giáo tình thương là nguồn năng lượng duy nhất có ích, và an toàn.

Không thể bảo vệ sự sống của con người mà không đồng thời bảo vệ sự sống của cỏ cây, cầm thú, và đất đá. Mỗi hành giả trong đạo Phật phải là một người bảo vệ môi trường.

b. Mỡ rộng tấm lòng (Không trộm cắp):

Ở đây chữ ‘Từ.’ Từ và Bi là hai yếu tố của tình thương trong giáo pháp Đức Phật. Bi có nghĩa là ý hướng và khả năng làm vơi đi nỗi khổ nơi một người hay một chúng sinh khác. Từ có nghĩa là ý hướng và khả năng mang niềm vui tới cho một người hay một chúng sinh khác. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tiên đoán rằng vị Phật kế tiếp trong tương lai sẽ có tên là Từ Thị, vị Phật của Tình Thương.

Muốn nâng cao phúc lợi của con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá, chúng ta phải đến với nhau như một cộng đồng để xem xét tình trạng của mình, vận dụng thông minh và khả năng nhìn sâu của chúng ta để có thể tìm ra những giải pháp thích hợp để biểu hiện lòng Từ giữa những vấn đề có thật.

Muốn thực tập tâm rộng rãi thì cần phải có thời gian. Chúng ta có thể rất muốn giúp những người nghèo đói, nhưng chúng ta lại bị kẹt vào những vấn đề trong cuộc sống hằng ngày của riêng mình. Thay vì trộm cắp chúng ta thực tập hạnh bố Thí. Trong Phật giáo có ba loại tặng phẩm.

- Thứ nhất là tặng phẩm vật chất.

- Thứ hai là giúp người tự lực tự cường, giúp cho họ kỹ thuật cũng như giúp cho họ biết cách đứng vững trên hai chân mình. Giúp bằng chánh Pháp để người ta có thể chuyển hoá những sợ hãi, giận hờn, và tuyệt vọng của mình.

- Loại thứ ba là món quà vô úy. Chúng ta sợ đủ thứ. Chúng ta cảm thấy không an ninh, sợ cô đơn, sợ bệnh, sợ chết. Để giúp người không bị tàn phá bởi những nỗi sợ hãi của mình, chúng ta thực tập loại bố thí thứ ba.

c. Bảo vệ tiết hạnh (Không tà dâm):

Hành động tà dâm đã gây tàn hoại cho không biết bao nhiêu cuộc đời, làm đổ vỡ không biết bao nhiêu gia đình. Cho nên chúng ta phải thự tập điều này để hàn gắn cho mình và hàn gắn cho xã hội. Đó là sống có chánh niệm.

 Sự cam kết lâu dài giữa hai người chỉ là điểm khởi đầu,điều quan trọng là sự cam kết của hai người được chứng minh bởi hai họ và nhiều bè bạn. Bây giờ hai người có sự yểm trợ của những người này. Một cam kết lâu dài sẽ mạnh và dài lâu hơn nếu được làm trong khung cảnh của Tăng chư Tăng Ni.

Tình cảm sâu đậm của hai người rất quan trọng, nhưng không đủ để duy trì hạnh phúc. Không có những yếu tố khác, cái mà ta gọi là tình yêu chẳng bao lâu sẽ có thể trở thành chua chát. Sự cùng đến yểm trợ của gia đình và bạn bè đã dệt nên một mạng lưới. Sức mạnh của tình cảm hai người chỉ là một sợi tơ trong mạng lưới đó.

‘Trách nhiệm’ là từ then chốt trong giới thứ Ba. Nếu không thực tập giới này, ta có thể sẽ trở nên vô trách nhiệm và tạo vấn đề rắc rối cho cộng đồng xã hội. Chúng ta không tà hạnh vì chúng ta có tránh nhiệm đến sự an nguy của bao nhiêu người. Nếu vô trách nhiệm, ta có thể sẽ làm đổ vỡ tất cả.

d. Ái ngữ và lắng nghe (Không nói dối):

Tục ngữ Việt Nam có câu: ‘Lời nói chẳng mất tiền mua,lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.’ Ta chỉ cần cân nhắc lựa lời là có thể làm cho người khác đẹp lòng. Dùng ngôn ngữ cho có chánh niệm, với tâm Từ, là thực tập hạnh rộng rãi, hiến tặng. Chỉ cần thực tập ái ngữ ta đã có thể làm cho nhiều người hạnh phúc.

Nếu ta được thúc đẩy bởi từ bi thì có rất nhiều cách để mang hạnh phúc lại cho kẻ khác ngay bây giờ, bắt đầu bằng ngôn ngữ thân ái. Cách ta nói có thể mang lại cho người khác niềm vui, hạnh phúc, sự tự tin, hy vọng, lòng tin, và giác ngộ. Nói năng có chánh niệm là một thực tập sâu sắc.

Lời nói có thể có giá trị xây dựng hay có tính phá hoại. Nói với chánh niệm có thể mang lại hạnh phúc thật sự; lời nói thiếu chánh niệm có thể giết hại. Khi một người nói với ta những điều làm cho ta khoẻ mạnh và hạnh phúc, thì đó là món quá quý hoá nhất người ấy có thể hiến tặng.

Trong truyền thống đạo Phật Giới thứ Tư luôn được diễn tả như là tránh làm bốn việc:

1. Không nói sự thật (ngoa ngôn) Nếu đó là đen mà mình lại nói là trắng.

2. Phóng đại (ỷ ngữ) Bịa đặt, hoặc diễn tả sự việc đẹp hơn hay xấu hơn thực tế của nó.

3. Nói lắt léo (lưỡng thiệt) Đến người này nói thế này, đến người khác lại nói thế khác.

4. Ngôn ngữ thô ác (ác ngữ.) Lăng mạ hay xúc phạm người khác. 

Chúng tôi đã đào tạo các Hoằng Pháp  viên đi đến các vùng hẻo lánh giúp đỡ về các vấn đề sức khoẻ, kinh tế, giác dục, nỗ lực giúp những người nông dân tìm thấy hy vọng, úp nông dân dựng lại những ngôi làng đổ nát... Đây là nhiệm vụ của người Phật tử trong việc đem chanh pháp của Đức Phật đi vào cuộc đời.

e. Gìn giử thân tâm,lành mạnh xã hội (Không uống rượu): Có những người uống rượu say sưa, họ tàn hoại thân thể, gia đình, và xã hội của mình. Cuộc đời ta là để cho tổ tiên, các thế hệ tương lai, và cả cho xã hội. Việc sử dụng, rượu và  ma túy của nhiều người trẻ cũng phải được ngăn. Chúng ta thực tập giới này cho toàn thể vũ trụ, và cho cả xã hội. Nếu chúng ta lành mạnh, thì ai cũng lợi lạc cả không phải chỉ trong xã hội loài người, mà cả trong xã hội cỏ cây, cầm thú, và đất đá.

Sức khoẻ không phải chỉ là sức khoẻ thân thể, mà còn là sức khoẻ tâm hồn. Giới thứ Năm chính là về vấn đề sức khoẻ và trị liệu. Tiếp xúc cũng có nghĩa là biết được trong thức ăn có độc tố hay không. Ta có thể nhận biết thức ăn có lành mạnh hay không nhờ chánh niệm.

Chúng ta cần được bảo vệ vì các độc đố quá ngập tràn trong xã hội, gia đình, và cá nhân ta. Chúng ta phải dùng mọi cách có thể để bảo vệ chính mình.

Giới thứ Năm khuyên ta tìm những thức ăn tinh thần lành mạnh, không phải chỉ cho riêng mình mà còn cho con cháu và các thế hệ tương lại nữa. Những chất liệu nuôi dưỡng lành mạnh, tâm linh có thể được tìm nơi đoá hoa mùa xuân, với những bài thực tập căn bản nhất, ý thức về thân, tâm, và ngoại cảnh có thể đưa ta tới một trạng thái đầy đủ, giàu có mà ma túy không thể nào đem tới được. Chúng ta có thể vui được cái vui sẵn có, trong những hạnh phúc đơn sơ nhất.

Việc sử dụng rượu và ma túy gây ra không biết bao nhiêu là tai hại cho gia đình và xã hội. Một khi đã nghiện rượu và ma túy, người ta có thể làm bất cứ chuyện gì miễn là có thuốc mà thôi – nói dối, ăn trộm, ăn cướp, cho đến giết người. Ngăn chặn sự buôn bán ma túy chưa phải là cách hay nhất để ngăn ngừa việc sử dụng ma túy. Cách hay hơn cả là thực tập Giới thứ Năm và giúp mọi người thực tập.

Tóm lại chúng cuộc sống có những sự  việc xãy ra mà những nhà đạo đức hay tôn giáo  cảm thấy đau lòng và lo lắng cho một tương lai của nhân loại nói chung và dân tộc Việt Nam nòi riêng càng ngày càng trở nên phổ biến như: Chiến tranh thù hận, xung đột ý thức hệ tôn giáo, chủng tộc…. Sự rạn nứt giữa cộng động xã hội và gia đình làm cho nền đạo đức càng ngày càng lộ rõ sự mất hết nhân tính của con người,con giết cha mẹ,vợ giết chồng, anh em thù oán không con nhìn nhau… Đó chính là con người thiếu thực tập tình thương yêu đồng loại

III. CON ĐƯỜNG HƯỚNG THƯỢNG CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ TRONG VIỆC THỰC TẬP  & TRUYỀN BÁ CHÁNH PHÁP:

        1/ Ý thức rằng giáo lý Phật giáo là một nền giáo lý thiết thực: Hệ thống giáo lý của Phật giáo luôn luông mang tính thực tiển,nhằm tháo gỡ nhưng khổ đau của chính những hành giả chấp nhận và xem đó như là phương thuốc trị liệu những căn bệnh của chính minh.

Kinh Pháp Cú nói:

 "Nếu với ý thanh tịnh,

Nói lên hay hành động,

An lạc bước theo sau,

 Như bóng không rời hình".

 

        2. Ý thức rằng gíao lý của Phật giáo đến để mà thấy chớ không phải đến để mà tin: Đức Phật đã dạy:  “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Niềm tin của Phật giáo được xây dựng trên nền tảng của Chánh tín qua sàn lọc của trí huệ .Vì thế cho nên trong kinh (Anguttara Nikaya) đức Phật đã dạy:  Đừng tin tưởng một điều gì  vì văn phong. Đừng tin tưởng một điều gì vì vịn vào một tập quán lưu truyền. Đừng tin tưởng điều gì  vì có được nhiều người nói đi nhắc lại.Đừng tin tưởng điều gì dù là bút tích của thánh nhân.Đừng tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến  ta nhận là điều ấy đúng. Đừng tin tưởng một điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai thị cho ta. Đừng tin tưởng  bất cứ một điều gì chỉ vịn vào chỉ có một uy tín của các Thầy dạy các người. Nhưng chỉ tin tưởng những gi mà chính các người đã từng trải,kinh nghiệm và nhận la đúng, có lợi cho mình và kẻ khác. Chỉ có cái đó mới là mục đích  tối hậu  thăng hoa cho con người và cuộc đời. Các người hãy lấy đó làm chuẩn mực? .

Chúng  đến với đạo Phật nhằm tìm đến với chân lý  lẽ thực), giúp cho người con Phật nhận chân lẽ thực của đời sống và không bị nó làm cho khổ đau khi đối diện với những điều trái ý nghịch lòng.

3. Ý thức rằng giáo lý của Phật giáo sẽ đem lại kết quả tức thì: Từ bao lâu nay người Phật từ nghĩ rằng giáo lý của đạo Phật là hướng về tương lai với những thế giới đầy mầu nhiệm muôn màu muôn vẽ mà không bao giờ nghĩ rằng nền gáio lý đó Đức Phật dạy cho mọi hành giả khi tu tập có kết quả ngay trong đời sống hiện tại cho không phải là sự hứa hẹn ở tương lai.

Trong bài kinh Nhất Dạ Hiền Giả:                

 Quá khứ không truy tìm

Tương lai không ước vọng.

Quá khứ đã đoạn tận,

Tương lai lại chưa đến,

Chỉ có pháp hiện tại

Tuệ quán chính ở đây.

Không động không rung chuyển

Biết vậy nên tu tập,

Hôm nay nhiệt tâm làm,

Ai biết chết ngày mai?

Không ai điều đình được,

Với đại quân thần chết,

Trú như vậy nhiệt tâm,

Đêm ngày không mệt mỏi,

Xứng gọi Nhứt dạ hiền,

Bậc an tịnh, trầm lặng.

4. Ý thức rằng giáo lý Phật giáo vượt ra ngoài không gian và thời gian:  Tất cả giáo điển của Phật đều kiến lập trên  4 nguyên tắc:

a. Khế lý: Không trái lại những quy luật phát triển của mọi thời đại và Phù hợp với lẽ thực của cuộc sống nhân sinh.

b. Khế cơ: Phù hợp với từng căn cơ của  từng con người cụ thể,vì vậy mà thời kỳ Phật gọi đó là “ứng cơ thuyết Pháp” (Tương ứng với căn cơ trình độ nhận thức của con người trong từng hoàn cảnh ).

c. Khế thời: Giáo lý đó phải phù hợp với từng thời đại của một xã hội, không đi ngược lại với hoàn cảnh lịch sử mà dân tộc quốc gia đó đang thực hiện.

d. Khế xứ: Phù hợp với từng quốc gia mà đạo Phật du nhập với những phong tục tập quá của từng dân tộc. Cho nên chúng ta nhân thấy tinh thần đạo Phật thể hiện “Phật Pháp là bất định pháp” (Phật Pháp không có gì cố định ).

Đây là 4 nguyên tắc này đã giúp cho những nhà truyền giáo đạo Phật khi du nhập đất nước  nào cũng được mọi người đón nhận như là một tín ngưỡng bản địa  vì nó không đi ngược lại nền văn hóa, xã hội, chính trị… mà dân tộc đó đang sống. Chính yếu tố này mà giáo lý đạo Phật không bị không gian, thời gian làm mất đi ý nghĩa đích thực của nó. Mãi mãi nền nền giáo lý đó được  xem như một phương thuốc trị liệu cho tất cả mọi người trong  mọi thời đại lịch sử ở từng quốc gia khác nhau.

III. LỜI KẾT:

Trong xã hội hiện nay, khi mà nền đạo đức cần có một sự góp sức của các tôn giáo trong đó Phật giáo đóng vai trò quan trọng vì có thể đem lại cho nhân loại một hướng đi dựa trên nền tảng cản của những người con Phật thực hành những nguyên tắc đạo lý tình thương, công bằng, bình đẳng mà từ mấy ngàn năm qua  nền giáo lý đó đã được nhân loại xem như những giá trị thiết thực có ích cho cộng đồng xã hội. Tinh thần  giáo lý của đạo Phật không cố chấp cho nên về mặt ý thực cũng không tạo nên mâu thuản cho bất cứ quốc gia nào có sự hiện diên của đạo Phật.

Chính lúc Lê Đại Hành ở ngôi đã có nhờ thiền sư Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận... là những vị Thiền sư bác học, đạo đức cao thâm cùng chung giúp sức, cố vấn, cho nên khi vua Lê Đại Hành hỏi Thiền sư Đỗ Pháp Thuận rằng "Vận nước hiện nay như thế nào?". Thiền sư Đỗ Pháp Thuận liền trả lời:

Vận nước như dây quấn

Trời Nam ôm thái bình

Đạo đức ngự cung điện

Muôn xứ tức đao binh 

(Nguyễn Lang – Sử luận1, tr. 146).

Người Phật tử ngày nay muốn đam chánh Pháp truyền bá đến cho mọi người trong xã hội, muốn góp phần làm lảnnh mạnh hóa đới sống những người chung quanh,trong cộng đồng dân cư  chúng ta phải xây dựng cho chính mình một nhân cách nhằm trang nghiêm tự thần , xây dụng  gia đình  có một cuộc sống an lạc và hạnh phúc  mà trong Tám quyển sách quý  HT. Thích Thiện Hoa đã viết: “Một người tin Phật là một người có hạnh phúc, một gia đình tin Phật là gia đình đó có hạnh phúc, một làng xóm tin Phật là làng xóm đó hạnh phúc và một đất nước tin Phật là một đất nước đó hạnh phúc”.

IV. Tài liệu tham khảo: 

- Để cho Tương Lai con có mặt - TS Nhất Hạnh

- Đạo đức trong nếp sống người Phật tử - Tỳ kheo Thích Minh Châu

- Đạo đức học hậu hiện đại một giải pháp Phật giáo. Pano Skiotis

- Thích Nguyên Hiệp dịch

- Ành Hưởng của Đạo Đức PG  với việc xây dựng đạo đức của chúng ta hiện nay

- Lê hữu Tuấn

TT. Thích Thiện Bảo Phó Ban HPTW

Các tin đã đăng:
» Dự báo thời tiết
 
» Từ điển Online
Từ cần tra:
Tra theo từ điển: